Mọi hệ chữa cháy bằng nước của nhà xưởng, từ họng nước vách tường, trụ nước ngoài nhà tới sprinkler, đều phụ thuộc vào hai thứ: đủ nước dự trữ trong thời gian chữa cháy theo thiết kế, và trạm bơm đưa nước tới đúng áp lực, đúng lưu lượng ngay cả khi mất điện lưới. Vì vậy trong hồ sơ thẩm duyệt, phần nguồn nước và trạm bơm được xem như trái tim của hệ thống, và trong buổi kiểm tra kết quả nghiệm thu, chạy thử trạm bơm gần như luôn là mục đầu tiên.
Bài này nói về những điểm chủ đầu tư nhà xưởng cần nắm khi tư vấn thiết kế nguồn nước, trạm bơm và khi chuẩn bị nghiệm thu. Dung tích bể, lưu lượng, cột áp là kết quả tính theo quy chuẩn và tiêu chuẩn hiện hành cho từng công trình; bài không đưa con số, chỉ đưa câu hỏi và điểm cần kiểm.
Dung tích bể được quyết định bởi điều gì
Lượng nước dự trữ cho chữa cháy không phải con số chọn cho tròn. Nó được tính từ nhu cầu nước của các hệ cùng hoạt động trong kịch bản cháy bất lợi nhất (thường là chữa cháy ngoài nhà, họng nước trong nhà và hệ tự động của khu nguy hiểm nhất) nhân với thời gian chữa cháy theo quy định cho loại công trình đó, có xét lượng nước được bổ sung trong lúc chữa cháy nếu nguồn cấp bảo đảm.
Từ đó có thể thấy ba quyết định của chủ đầu tư ảnh hưởng thẳng tới dung tích bể: chọn hệ chữa cháy tự động cho khu nào (khu kho kệ cao đòi nước nhiều hơn hẳn), xếp hạng nguy hiểm thế nào, và có dựa vào nguồn nước của hạ tầng khu công nghiệp hay không. Thay đổi một trong ba thứ sau khi đã đổ bê tông bể là việc rất tốn.
Vì thế, đừng để nhà thầu xây dựng làm bể theo "kích thước thường gặp" trước khi thiết kế hệ chữa cháy được chốt. Thứ tự đúng là chốt giải pháp chữa cháy, tính nhu cầu nước, rồi mới thiết kế bể và trạm bơm. Ví dụ giả định: một chủ xưởng ở Đồng Nai cho xây bể theo dự án cũ để kịp tiến độ, sau đó kho được thiết kế kệ cao với đầu phun loại lưu lượng lớn; bể thiếu, phải xây thêm một bể phụ chiếm mất phần đất dự định làm bãi xe.
Các lựa chọn nguồn nước và điều cần làm rõ
Một nhà xưởng có thể lấy nước chữa cháy từ một hoặc kết hợp nhiều nguồn. Mỗi nguồn kéo theo yêu cầu chứng minh khác nhau trong hồ sơ.
| Nguồn nước | Ưu điểm | Điều hồ sơ phải chứng minh |
|---|---|---|
| Bể chứa riêng cho chữa cháy | Chủ động, dễ kiểm soát, dễ chứng minh | Dung tích theo tính toán, có cách bổ sung nước, chống rò rỉ |
| Bể chung với nước sinh hoạt, sản xuất | Tiết kiệm diện tích, nước luôn được thay | Phần dự trữ chữa cháy không bị dùng cho mục đích khác |
| Mạng cấp nước của khu công nghiệp | Giảm đầu tư bể | Văn bản xác nhận áp lực, lưu lượng; độ tin cậy khi mạng có sự cố |
| Nguồn nước tự nhiên (ao, hồ, sông) | Có sẵn ở một số vị trí | Trữ lượng mùa khô, chỗ cho xe chữa cháy lấy nước, đường tới bến |
| Kết hợp nhiều nguồn | Linh hoạt, dự phòng | Nguồn nào cho hệ nào, chuyển đổi ra sao khi một nguồn mất |
Với bể chung, cách làm phổ biến là bố trí ống hút cho nước sinh hoạt ở cao độ cao hơn mực dự trữ chữa cháy, để phần nước dưới đáy luôn còn. Chi tiết này phải thể hiện trên bản vẽ; cán bộ thẩm định thường hỏi nó.
Trạm bơm: những thành phần hồ sơ phải thể hiện rõ
Bơm chính và bơm dự phòng. Thiết kế thường có bơm chính và bơm dự phòng có cùng khả năng, để một bơm hỏng hệ thống vẫn chạy. Bơm dự phòng có thể chạy bằng động cơ diesel hoặc điện với nguồn độc lập, tuỳ giải pháp được chọn.
Bơm bù áp. Bơm nhỏ giữ áp lực trong mạng ống khi không có cháy, bù những rò rỉ nhỏ, tránh để bơm chính khởi động vô cớ. Cài đặt áp khởi động, dừng của từng bơm phải có trong hồ sơ.
Nguồn điện cho bơm. Bơm điện chữa cháy cần nguồn được ưu tiên, không bị cắt khi ngắt điện toàn xưởng lúc có cháy. Đường dây cấp cho bơm phải được bảo vệ chịu lửa theo yêu cầu.
Phòng bơm. Phòng bơm cần được ngăn cháy với khu vực khác, có lối vào thuận tiện, thông gió cho động cơ diesel, chiếu sáng sự cố và chỗ thao tác bảo trì.
Đường ống thử và đồng hồ. Đường thử lưu lượng, đồng hồ áp, van một chiều, van khoá có trạng thái giám sát giúp chứng minh bơm đạt thông số mà không phải xả nước ra hệ thống.
Chế độ khởi động. Bơm chữa cháy phải khởi động tự động theo tín hiệu áp lực hoặc báo cháy, đồng thời có thể khởi động tại chỗ bằng tay; chế độ dừng thường bằng tay để không tự tắt khi đám cháy chưa dập.
Lỗi hay gặp khi chạy thử trạm bơm lúc nghiệm thu
Buổi kiểm tra kết quả nghiệm thu thường yêu cầu chạy thử thực tế. Các lỗi dưới đây xuất hiện khá đều, và đa số có thể phát hiện nếu chủ đầu tư tự thử trước.
- Bơm không tự khởi động khi giảm áp vì cài đặt áp lực của bơm bù áp và bơm chính chồng lấn nhau.
- Bơm diesel khó nổ vì ắc quy yếu, nhiên liệu trong bồn không đủ hoặc chưa xả khí đường dầu.
- Nguồn điện cho bơm vẫn đi qua cầu dao tổng, cắt điện toàn xưởng là bơm cũng tắt.
- Áp lực tại đầu bất lợi nhất không đạt vì đường ống thi công khác thiết kế, thêm nhiều co, đổi đường kính.
- Van trên đường hút hoặc đường đẩy bị đóng một phần sau khi nhà thầu thử áp và quên mở lại.
- Rung, ồn bất thường do bệ máy, khớp nối không được căn chỉnh.
- Tín hiệu trạng thái bơm không về tủ báo cháy trung tâm như thiết kế liên động.
Một buổi tự chạy thử có biên bản, với sự có mặt của tư vấn giám sát và nhà thầu, nên làm vài ngày trước khi mời đoàn kiểm tra. Ghi lại thông số đo được, so với thông số thiết kế, giải trình mọi chênh lệch.
Giám sát thi công bể và trạm bơm: đo, chụp trước khi bị che lấp
Bể nước và đường ống chữa cháy có nhiều phần sẽ bị chôn, đổ bê tông hoặc che kín sau khi xong: cốt thép và lớp chống thấm của bể, đường ống ngầm ngoài nhà, ống xuyên qua tường bể, bệ máy bơm. Khi đã che, không ai còn kiểm được nữa, và nếu có rò rỉ hay sai kích thước, việc sửa sẽ phải đục phá. Vì vậy những hạng mục này cần được nghiệm thu công việc ngay khi làm xong từng phần, trước khi chuyển sang bước tiếp.
Chủ đầu tư nên yêu cầu tư vấn giám sát lập danh sách công việc khuất cần nghiệm thu cho phần cấp nước chữa cháy, kèm ảnh chụp có mốc vị trí, số đo kích thước thực tế của bể, đường kính và vật liệu ống, chiều sâu chôn ống, kết quả thử kín bể và thử áp đường ống trước khi lấp. Những tài liệu này là một phần hồ sơ hoàn công mà đoàn kiểm tra kết quả nghiệm thu có thể yêu cầu xem.
Một điểm hay bị bỏ qua là cao độ thực tế của đáy bể và miệng ống hút so với thiết kế. Sai lệch vài chục phân có thể làm bơm không hút được hết lượng nước dự trữ đã tính, khiến dung tích hữu ích nhỏ hơn dung tích xây. Đo cao độ ngay khi xong phần thô rẻ hơn nhiều so với phát hiện khi chạy thử.
Bể nước và trạm bơm dùng chung cụm xưởng
Ở nhiều khu công nghiệp và cụm xưởng cho thuê, một trạm bơm và một bể nước phục vụ nhiều nhà xưởng. Cách làm này hợp lý về kinh tế, nhưng hồ sơ phải chứng minh trạm đủ cho nhu cầu lớn nhất trong các xưởng được phục vụ, theo nguyên tắc tính cháy một nơi trong một thời điểm hay nhiều hơn tuỳ quy chuẩn áp dụng cho quy mô đó.
Vấn đề nảy sinh khi một xưởng trong cụm nâng cấp: chuyển sang kho kệ cao, thêm khu nguy hiểm hơn. Nhu cầu nước của riêng xưởng đó có thể vượt khả năng của trạm chung. Người thuê hoặc chủ xưởng muốn thay đổi phải tính lại cả trạm, và nếu thuộc diện thì thẩm định điều chỉnh. Không thể chỉ thêm đầu phun và hy vọng trạm cũ gánh được.
Về quản lý, trạm bơm dùng chung cần một người chịu trách nhiệm rõ ràng: ai bảo trì, ai trực, ai chịu chi phí điện và nhiên liệu, ai giữ hồ sơ. Những câu này thuộc chặng vận hành, nhưng nếu không được viết ra ngay khi thiết kế và bàn giao, đến lúc kiểm tra nghiệm thu từng xưởng sẽ không ai trình được hồ sơ trạm.
Trụ nước ngoài nhà và chỗ cho xe chữa cháy lấy nước
Bên cạnh hệ thống bên trong, nhà xưởng thường phải có giải pháp cấp nước chữa cháy ngoài nhà: trụ nước trên mạng ống vòng quanh xưởng, hoặc hố, bến lấy nước từ bể cho xe chữa cháy. Vị trí trụ phải bảo đảm xe chữa cháy tiếp cận được, khoảng cách tới các mặt nhà hợp lý, và không bị che bởi hàng hoá, bãi xe, cây xanh trồng sau này.
Trong hồ sơ, phần này nằm trên bản vẽ tổng mặt bằng. Lỗi hay gặp là trụ được vẽ sát tường nhà (khi cháy, người không tới gần được), hoặc mạng ống ngoài nhà là mạng cụt thay vì mạng vòng như thiết kế yêu cầu. Khi kiểm tra nghiệm thu, đoàn có thể mở thử trụ ở vị trí bất lợi để đo áp.
Chủ đầu tư cũng nên để ý cao độ nắp bể, hố hút: chúng cần được bảo vệ, có nắp, không thành chỗ tích rác, và không bị san lấp khi làm sân bãi về sau. Nhìn thì nhỏ, nhưng đó là lối cuối cùng để lực lượng chữa cháy lấy nước khi các nguồn khác gặp sự cố.
Câu hỏi thường gặp
Bể nước chữa cháy có bắt buộc phải xây chìm không?
Không bắt buộc. Bể có thể nổi, chìm hoặc nửa chìm, miễn đáp ứng dung tích, bảo vệ, cách lấy nước theo thiết kế. Bể chìm tiết kiệm mặt bằng nhưng khó kiểm tra rò rỉ; bể nổi dễ bảo trì nhưng chiếm diện tích và cần tính điều kiện hút của bơm.
Có cần bơm diesel không hay dùng hai bơm điện là đủ?
Tuỳ yêu cầu về độ tin cậy nguồn động lực theo tiêu chuẩn được áp dụng và nguồn điện thực tế của công trình. Nếu không bảo đảm được hai nguồn điện độc lập, bơm diesel thường là phương án dự phòng. Tư vấn sẽ chọn và giải trình trong hồ sơ.
Bơm bù áp chạy liên tục có phải là lỗi không?
Bơm bù áp khởi động quá thường xuyên thường là dấu hiệu rò rỉ trong mạng ống hoặc cài đặt áp chưa phù hợp. Nên kiểm tra, khắc phục trước khi nghiệm thu, vì đoàn kiểm tra có thể hỏi về tần suất khởi động.
Mua máy bơm trước khi có văn bản thẩm định có được không?
Rủi ro cao. Thông số bơm phụ thuộc kết quả tính của thiết kế được thẩm định; nếu thiết kế thay đổi lưu lượng hoặc cột áp, bơm đã mua có thể không dùng được. Nên chờ thiết kế chốt và kiểm tra yêu cầu kiểm định với loại bơm đó.
Dùng nước giếng khoan cho bể chữa cháy được không?
Nước giếng có thể dùng làm nguồn bổ sung nếu lưu lượng và độ tin cậy được chứng minh. Cần lưu ý chất lượng nước gây cặn, ăn mòn đường ống, và thủ tục về khai thác nước dưới đất theo quy định hiện hành.
Ai chịu trách nhiệm khi trạm bơm dùng chung không chạy lúc có cháy?
Phụ thuộc thỏa thuận quản lý trạm và hợp đồng giữa các bên, cùng nguyên nhân cụ thể. Đây là lý do cần văn bản phân công rõ ngay khi bàn giao; tranh chấp sau sự cố nên có luật sư hỗ trợ.