QCVN 06 đánh giá tính nguy hiểm cháy của vật liệu xây dựng bằng một bộ chỉ tiêu riêng, độc lập với giới hạn chịu lửa của kết cấu: tính cháy (vật liệu không cháy hoặc các nhóm cháy Ch1 đến Ch4), tính bắt cháy (BC1 đến BC3), tính lan truyền lửa trên bề mặt (LT1 đến LT4), khả năng sinh khói (SK1 đến SK3) và độc tính của sản phẩm cháy (T1 đến T4). Với mỗi chỉ tiêu, số càng nhỏ thì vật liệu càng ít nguy hiểm.
Những chỉ tiêu này quyết định loại vật liệu ốp trần, ốp tường, lát sàn nào được dùng ở lối thoát nạn, sảnh, hành lang, phòng đông người, cũng như vật liệu ốp mặt ngoài và vật liệu cách nhiệt. Nội thất đẹp mà chọn sai nhóm vật liệu là lý do hay gặp khiến công trình phải tháo dỡ khi kiểm tra nghiệm thu, đặc biệt ở quán karaoke, nhà hàng, khách sạn.
Năm chỉ tiêu nói lên điều gì
Tính cháy. Vật liệu có cháy hay không, và nếu cháy thì cháy mạnh tới mức nào sau khi nguồn lửa bị lấy đi. Vật liệu không cháy như bê tông, gạch, đá, kim loại, bông khoáng không có chất kết dính hữu cơ đáng kể; còn lại xếp từ Ch1 (cháy yếu) tới Ch4 (cháy mạnh).
Tính bắt cháy. Vật liệu bắt lửa dễ hay khó khi chịu nhiệt bức xạ, từ BC1 (khó bắt cháy) tới BC3 (dễ bắt cháy). Vật liệu khó bắt cháy cho người trong phòng thêm thời gian trước khi đám cháy bùng lên.
Tính lan truyền lửa. Ngọn lửa chạy trên bề mặt vật liệu nhanh hay chậm, từ LT1 (không lan truyền) tới LT4 (lan truyền mạnh). Chỉ tiêu này đặc biệt quan trọng với trần và tường hành lang, nơi lửa chạy trên bề mặt có thể chặn đường thoát nhanh hơn người chạy.
Khả năng sinh khói. Lượng khói và độ đặc của khói khi vật liệu cháy, từ SK1 (thấp) tới SK3 (cao). Khói làm mất tầm nhìn, người không tìm thấy lối thoát dù lối thoát ở ngay gần.
Độc tính sản phẩm cháy. Mức độc của khí sinh ra khi vật liệu cháy, từ T1 (độc tính thấp) tới T4 (đặc biệt độc). Phần lớn thương vong trong đám cháy toà nhà là do khí độc và khói, không phải do lửa trực tiếp.
Vị trí nào hay có yêu cầu chặt
Quy chuẩn đặt yêu cầu khác nhau tuỳ vị trí, công năng và chiều cao nhà. Bảng dưới chỉ nêu những vị trí thường bị xét kỹ khi thẩm định và nghiệm thu; nhóm vật liệu cụ thể phải tra bản QCVN 06 hiện hành.
| Vị trí | Vì sao bị xét kỹ | Chỗ hay sai trong thực tế |
|---|---|---|
| Buồng thang thoát nạn, sảnh thang | Là đường thoát cuối cùng, phải giữ được lâu nhất | Ốp gỗ, dán giấy tường, thảm trải sàn trang trí |
| Hành lang chung, sảnh tầng | Người đi qua để tới buồng thang | Trần nhựa, tấm ốp trang trí cháy được |
| Phòng đông người: hội trường, phòng hát, nhà hàng | Nhiều người cùng thoát, tải trọng cháy lớn | Mút xốp tiêu âm, vải bọc tường, trần trang trí |
| Mặt ngoài nhà, mặt dựng | Lửa có thể leo theo mặt ngoài lên nhiều tầng | Tấm ốp có lõi cháy được, lớp cách nhiệt cháy được |
| Lớp cách nhiệt, cách âm trong mái, vách, ống gió | Nằm khuất, cháy âm ỉ và lan không ai thấy | Xốp, mút cách nhiệt không có hồ sơ chỉ tiêu |
Vật liệu tiêu âm trong phòng hát là ví dụ đáng chú ý. Các loại mút xốp giá rẻ thường cháy rất mạnh, bắt cháy nhanh, sinh nhiều khói đặc và độc, đúng là tổ hợp nguy hiểm nhất trong một căn phòng kín đông người. Thay bằng vật liệu tiêu âm có chỉ tiêu phù hợp là việc không nên tiết kiệm.
Ốp mặt ngoài và cách nhiệt: chỗ quy chuẩn đã siết
Trên thế giới, nhiều đám cháy lớn ở nhà cao tầng lan theo mặt ngoài nhà, do tấm ốp hoặc lớp cách nhiệt cháy được. Sau đó nhiều nước đã siết yêu cầu với hệ mặt dựng. Ở Việt Nam, các lần sửa đổi QCVN 06 cũng đã điều chỉnh yêu cầu về vật liệu hoàn thiện, ốp mặt ngoài và cách nhiệt, nên các giải pháp từng được chấp nhận trước đây chưa chắc còn phù hợp.
Với mặt dựng, điều cần xét không chỉ là tấm ốp ngoài cùng mà là cả hệ: lớp ốp, khe rỗng phía sau, lớp cách nhiệt, khung đỡ, chi tiết chặn lửa tại mỗi sàn. Một tấm ốp đạt chỉ tiêu tốt nhưng phía sau là lớp xốp cháy được và khe rỗng thông suốt nhiều tầng thì cả hệ vẫn nguy hiểm.
Khi cải tạo mặt tiền nhà phố, nhà hàng, cửa hàng bằng tấm ốp trang trí, chủ đầu tư thường không nghĩ đó là việc liên quan tới PCCC. Nhưng nếu công trình thuộc diện thẩm duyệt hoặc đã được nghiệm thu PCCC, thay vật liệu mặt dựng có thể là thay đổi cần đánh giá lại. Hỏi tư vấn trước khi đặt hàng là cách rẻ nhất.
Kiểm tra hồ sơ chỉ tiêu của một vật liệu
Khi nhà cung cấp nói vật liệu "chống cháy", câu đó chưa có giá trị kỹ thuật. Bạn có thể yêu cầu và kiểm tra theo các bước dưới đây.
- Yêu cầu kết quả thử nghiệm cho từng chỉ tiêu mà vị trí lắp đặt yêu cầu, không chỉ một chỉ tiêu. Vật liệu không cháy có thể không cần đủ năm chỉ tiêu; vật liệu cháy được thì thường cần nhiều chỉ tiêu.
- Kiểm tra kết quả thử nghiệm có đúng mã sản phẩm, đúng chiều dày, đúng lớp phủ bề mặt so với sản phẩm sẽ giao không.
- Kiểm tra tiêu chuẩn thử nghiệm được dùng và tổ chức thử nghiệm. Kết quả theo tiêu chuẩn nước ngoài cần được người thiết kế đánh giá sự tương đương.
- Đối chiếu với bảng vật liệu hoàn thiện trong thuyết minh thiết kế PCCC: vị trí nào, yêu cầu nhóm nào.
- Khi hàng về công trường, kiểm tra nhãn mác, chứng từ đúng lô với hồ sơ đã duyệt, lưu mẫu nếu cần.
- Lưu toàn bộ vào hồ sơ hoàn công để xuất trình khi kiểm tra nghiệm thu.
Nếu vật liệu thuộc danh mục phương tiện, vật liệu phải kiểm định về PCCC theo quy định hiện hành, còn phải có giấy chứng nhận kiểm định. Danh mục này nên đối chiếu theo văn bản hướng dẫn Luật PCCC và CNCH hiện hành.
Những hiểu lầm về vật liệu "chống cháy"
Nhiều tranh chấp giữa chủ đầu tư, nhà thầu nội thất và nhà cung cấp bắt đầu từ những hiểu lầm sau.
- "Sơn chống cháy biến gỗ thành vật liệu không cháy." Sơn hoặc tẩm có thể cải thiện một số chỉ tiêu, nhưng gỗ vẫn là vật liệu cháy được. Chỉ tiêu sau xử lý phải được thử nghiệm cho chính tổ hợp đó.
- "Tấm thạch cao nào cũng không cháy." Lõi thạch cao khó cháy, nhưng lớp giấy bề mặt cháy được; các chỉ tiêu phụ thuộc loại tấm và phải có hồ sơ.
- "Vật liệu tự tắt khi bỏ lửa là an toàn." Tự tắt chỉ nói về tính cháy; vật liệu đó vẫn có thể sinh nhiều khói đặc và độc.
- "Chỉ cần trần đạt, tường và sàn không sao." Mỗi bề mặt có yêu cầu riêng, và lửa lan theo cả tường lẫn trần.
- "Đã có giấy chứng nhận hợp quy là đủ." Hợp quy về một quy chuẩn sản phẩm chưa chắc bao gồm các chỉ tiêu nguy hiểm cháy mà vị trí lắp đặt yêu cầu.
Cách tránh cả năm hiểu lầm là một: đừng hỏi nhà cung cấp "có chống cháy không", hãy hỏi "đạt chỉ tiêu nào, theo tiêu chuẩn thử nào, cho đúng sản phẩm và chiều dày nào". Câu hỏi càng cụ thể thì câu trả lời càng khó né.
Ví dụ giả định: hoàn thiện sảnh và hành lang khách sạn mini
Một chủ đầu tư xây khách sạn mini bảy tầng ở Cần Thơ. Đội nội thất đề xuất sảnh ốp gỗ công nghiệp và lam gỗ trang trí, trần hành lang bằng tấm nhựa giả gỗ, tường hành lang dán giấy dán tường dày, sàn hành lang trải thảm, buồng thang ốp đá nhưng chiếu nghỉ trải thảm cho đồng bộ. Mọi thứ đều đẹp, nhanh và rẻ, và cả bộ đều chưa được xét chỉ tiêu nguy hiểm cháy.
Khi tư vấn PCCC rà danh sách, buồng thang, hành lang và sảnh bị đánh dấu là những vị trí trên đường thoát nạn có yêu cầu chặt. Thảm trong buồng thang phải bỏ; trần nhựa hành lang phải thay bằng loại tấm có chỉ tiêu phù hợp; giấy dán tường và thảm hành lang phải có hồ sơ chỉ tiêu; ốp gỗ sảnh phải thu hẹp hoặc thay vật liệu. Chi phí vật liệu tăng, nhưng nếu thi công theo danh sách ban đầu rồi mới bị yêu cầu tháo, chủ cơ sở sẽ mất cả tiền vật liệu cũ lẫn thời gian lùi ngày khai trương.
Bài học không nằm ở chỗ vật liệu nào tốt nhất, mà ở thứ tự làm việc: bảng vật liệu hoàn thiện phải đi qua người thiết kế PCCC trước khi đặt hàng, không phải sau khi lắp xong.
Giới hạn của bài và khi nào cần chuyên gia
Cách phân loại các chỉ tiêu được trình bày theo QCVN 06 hiện hành; yêu cầu nhóm vật liệu cụ thể cho từng vị trí, từng loại công trình có thể thay đổi qua các lần sửa đổi, và một số loại công trình còn có quy chuẩn chuyên ngành. Bài không thay cho bảng vật liệu trong thiết kế, việc đó do đơn vị thiết kế đủ điều kiện lập.
Nếu đang cải tạo một cơ sở dịch vụ đông người như quán karaoke, quán bar, nhà hàng nhiều tầng, hãy yêu cầu thiết kế nội thất làm việc cùng thiết kế PCCC ngay từ đầu. Một danh sách vật liệu được duyệt trước khi đặt hàng sẽ tiết kiệm hơn nhiều so với việc tháo trần, tháo vách sau khi kiểm tra nghiệm thu không đạt.
Trong hợp đồng với nhà thầu nội thất, nên ghi rõ yêu cầu chỉ tiêu cho từng vị trí và nghĩa vụ cung cấp hồ sơ thử nghiệm khi giao hàng. Ghi chung chung "vật liệu chống cháy" thì khi có tranh chấp, rất khó xác định bên nào đã làm sai và bên nào phải chịu chi phí thay thế.
Câu hỏi thường gặp
Vật liệu không cháy có cần thử các chỉ tiêu khác không?
Với vật liệu đã được xác định là không cháy, quy chuẩn thường không đòi hỏi thêm các chỉ tiêu bắt cháy, lan truyền lửa, sinh khói và độc tính. Việc xác định không cháy vẫn phải có căn cứ thử nghiệm hoặc thuộc nhóm vật liệu được quy chuẩn thừa nhận.
Thảm trải sàn ở hành lang khách sạn có bị hạn chế không?
Vật liệu lát sàn ở đường thoát nạn có yêu cầu riêng, thường xét tính cháy, lan truyền lửa, sinh khói và độc tính. Thảm phải có hồ sơ chỉ tiêu phù hợp với vị trí theo bản quy chuẩn hiện hành.
Mút tiêu âm phòng hát có loại nào dùng được không?
Có những vật liệu tiêu âm có chỉ tiêu nguy hiểm cháy tốt hơn nhiều so với mút xốp thông thường, như bông khoáng bọc vải phù hợp hoặc tấm tiêu âm khó cháy. Quan trọng là có kết quả thử nghiệm cho đúng sản phẩm và đúng vị trí.
Đồ nội thất rời như sofa, rèm có bị xét không?
Quy chuẩn chủ yếu điều chỉnh vật liệu hoàn thiện gắn với công trình. Đồ rời ảnh hưởng tới tải trọng cháy và được xét trong quản lý PCCC khi hoạt động. Với phòng đông người, chọn rèm, đệm khó cháy vẫn là lựa chọn khôn ngoan.
Thay tấm ốp mặt tiền cửa hàng có phải xin phép PCCC không?
Tuỳ công trình có thuộc diện thẩm duyệt hay đã nghiệm thu PCCC và thay đổi có ảnh hưởng tới giải pháp đã duyệt không. Nên hỏi tư vấn và đối chiếu với cơ quan Cảnh sát PCCC và CNCH nơi quản lý trước khi thi công.
Kết quả thử nghiệm vật liệu có thời hạn không?
Kết quả thử nghiệm gắn với sản phẩm và tiêu chuẩn thử tại thời điểm thử. Nếu nhà sản xuất đổi công thức, đổi chiều dày hoặc tiêu chuẩn thay đổi, kết quả cũ có thể không còn đại diện. Giấy chứng nhận kiểm định nếu có thì theo quy định hiện hành.