Nghiệm thu hệ thống chữa cháy bằng nước là kiểm cả chuỗi từ nguồn nước tới điểm phun: bể chứa đủ nước, bơm tự khởi động khi áp lực giảm, đường ống chịu được áp lực thử, van báo động phát tín hiệu, đầu phun và họng nước ở điểm bất lợi nhất vẫn đủ áp lực và lưu lượng theo thiết kế. Thiếu một mắt xích, hệ thống chỉ là đường ống sơn đỏ.
Phần lớn sai sót không nằm ở thiết bị đắt tiền mà ở những chi tiết nhỏ: một van khoá quên mở sau khi thử, công tắc áp lực cài sai ngưỡng, bơm diesel thiếu nhiên liệu. Bài dưới đây đi theo dòng chảy của nước để chủ đầu tư và giám sát biết cần yêu cầu thử gì. Các thông số cụ thể (áp lực thử, lưu lượng, thời gian) lấy theo thiết kế được thẩm định và tiêu chuẩn áp dụng; bài không nêu con số để tránh áp sai cho công trình của bạn.
Đi theo dòng chảy: nghiệm thu từ nguồn tới đầu phun
Hệ thống chữa cháy bằng nước của một công trình vừa và nhỏ thường gồm: nguồn nước (bể ngầm, bể mái hoặc kết hợp, có khi lấy thêm từ mạng cấp nước ngoài nhà), trạm bơm với bơm chính, bơm dự phòng và bơm bù áp, mạng đường ống chính và nhánh, các van khoá, van một chiều, van báo động, rồi tới các điểm sử dụng là đầu phun sprinkler, họng nước chữa cháy vách tường và trụ tiếp nước cho xe chữa cháy.
Khi nghiệm thu, cách làm hợp lý là đi theo đúng thứ tự đó. Nguồn nước không đủ thì kiểm bơm cũng vô nghĩa; bơm không tự chạy thì đầu phun tốt đến đâu cũng không có nước. Mỗi khâu có biên bản riêng, và biên bản khâu sau nên ghi rõ đã dựa trên kết quả khâu trước.
Một nguyên tắc chung: thử ở trạng thái thường trực, không ở trạng thái "đã chuẩn bị". Nghĩa là mọi van để đúng vị trí thường ngày, bơm để chế độ tự động, tủ điều khiển không bị can thiệp. Nếu phải mở thêm một van hay bấm tay một nút mới có nước, hệ thống đó sẽ không tự hoạt động lúc có cháy thật vào ban đêm.
Một số phép thử, như thử áp lực đường ống, phải làm trước khi che lấp trần và vách. Đến buổi nghiệm thu hoàn thành thì chỉ còn xem biên bản. Vì vậy giám sát nên yêu cầu thử áp từng đoạn ngay khi lắp xong, có chụp ảnh đồng hồ và ghi thời gian giữ áp.
Bể nước và nguồn nước
Dung tích dành riêng cho chữa cháy. Khi bể dùng chung cho sinh hoạt và chữa cháy, thiết kế thường có giải pháp để phần nước chữa cháy không bị bơm sinh hoạt hút cạn, chẳng hạn đặt ống hút sinh hoạt cao hơn. Khi nghiệm thu, kiểm giải pháp đó có được thi công đúng không, vì đây là chỗ hay bị "tối ưu" trong lúc làm.
Đường cấp bổ sung nước. Bể phải được cấp bù nước tự động hoặc theo cách thiết kế quy định. Kiểm phao, van cấp và nguồn cấp hoạt động.
Chỉ báo mực nước. Thiết bị báo mực nước thấp (nếu thiết kế có) phải gửi tín hiệu về nơi có người trực. Thử bằng cách hạ mực nước hoặc kích hoạt cảm biến.
Họng lấy nước cho xe chữa cháy. Nếu bể có họng hút cho xe chữa cháy, kiểm vị trí xe tiếp cận được và họng không bị che bởi bồn cây, bãi đỗ xe sau khi hoàn thiện.
Vệ sinh bể. Bể mới xây còn cát, xi măng, mẩu que hàn sẽ theo nước vào đường ống và làm tắc đầu phun. Nên súc rửa bể và đường ống trước khi đổ đầy lần cuối.
Trạm bơm: những phép thử không được bỏ
Trạm bơm là tim của hệ thống. Bảng dưới liệt kê các phép thử theo nguyên lý; ngưỡng áp lực khởi động, dừng và thời gian lấy theo thiết kế.
| Phép thử | Mục đích | Cách nhận biết đạt |
|---|---|---|
| Bơm bù áp duy trì áp lực | Giữ áp lực thường trực, tránh bơm chính chạy khi rò rỉ nhỏ | Bơm bù chạy, dừng đúng ngưỡng cài, không chạy liên tục |
| Bơm chính khởi động tự động | Khi áp lực tụt do mở đầu phun hoặc họng nước, bơm chính phải tự chạy | Mở van xả thử, bơm chính khởi động mà không cần thao tác tay |
| Bơm dự phòng tiếp quản | Bơm chính hỏng thì bơm dự phòng thay thế | Giả lập bơm chính không chạy, bơm dự phòng tự khởi động |
| Bơm diesel (nếu có) | Hoạt động khi mất điện | Cắt điện lưới, bơm diesel khởi động bằng ắc quy, đủ nhiên liệu |
| Tín hiệu về báo cháy | Người trực biết bơm đang chạy hoặc lỗi | Tủ báo cháy nhận tín hiệu bơm chạy, bơm lỗi, mất nguồn |
| Đo áp lực, lưu lượng đầu bơm | Bơm đạt thông số thiết kế | Số đo trên đồng hồ ghi vào biên bản, so với đường đặc tính |
Điểm hay bị bàn cãi là bơm chính có được tự dừng không. Nhiều thiết kế quy định bơm chữa cháy chính chỉ dừng bằng tay sau khi đã khởi động, để tránh bơm tự tắt khi đám cháy còn cháy. Khi nghiệm thu, làm theo đúng logic trong thiết kế và ghi rõ vào tài liệu vận hành.
Sprinkler: những gì phải thấy tận mắt
Hệ thống sprinkler tự động hoạt động khi đầu phun vỡ do nhiệt. Không thể làm vỡ đầu phun để thử, nên nghiệm thu dựa vào các phép thử gián tiếp và quan sát kỹ:
- Van báo động (cụm van kiểm tra): mở van thử, kiểm chuông nước hoặc công tắc áp lực phát tín hiệu, tín hiệu về tủ báo cháy đúng khu.
- Van xả thử cuối tuyến ở vị trí bất lợi nhất: mở để mô phỏng một đầu phun hoạt động, đo áp lực, kiểm công tắc dòng chảy báo đúng vùng và bơm tự khởi động.
- Công tắc giám sát van khoá: đóng thử một van khoá nhánh, tủ báo cháy phải báo van đang đóng.
- Đầu phun: đúng loại theo thiết kế (nhiệt độ tác động, hướng lắp, hệ số), không bị sơn phủ, không dính vữa, khoảng cách tới trần và vật cản hợp lý.
- Tủ đầu phun dự phòng và cờ lê chuyên dụng có sẵn tại công trình.
- Vật cản sau hoàn thiện: đèn trang trí, ống gió, giá kệ cao có che tia phun không.
Kho có giá kệ cao là nơi hay vướng nhất. Nếu khi thiết kế kho được tính với chiều cao xếp hàng nhất định mà khi vận hành chủ kho lắp kệ cao hơn, hệ thống sprinkler trần có thể không còn phù hợp. Đây là chuyện cần nói rõ với người thuê kho ngay từ khi bàn giao.
Họng nước vách tường và trụ tiếp nước
Áp lực tại họng bất lợi nhất. Mở họng ở tầng cao nhất hoặc xa trạm bơm nhất, đo áp lực và quan sát tia nước theo phương pháp quy định. Kết quả ghi bằng số, không ghi "nước mạnh".
Thiết bị trong tủ. Cuộn vòi đủ chiều dài, lăng phun, khớp nối đúng chuẩn và lắp được với nhau. Một tủ có vòi mà khớp không vừa họng thì coi như không có.
Vị trí và tiếp cận. Tủ ở đúng vị trí thiết kế, cửa tủ mở được hết, không bị đồ đạc, quầy kệ chắn. Gần buồng thang hoặc lối ra để người chữa cháy tiếp cận an toàn.
Trụ tiếp nước cho xe chữa cháy. Kiểm vị trí xe tiếp cận được, khớp nối đúng loại, van một chiều hoạt động, có chỉ dẫn hệ thống được cấp. Đây là cách lực lượng chữa cháy bơm thêm nước vào mạng của công trình.
Trụ nước ngoài nhà. Nếu công trình có trụ nước riêng trong khuôn viên, thử mở để kiểm có nước và áp lực theo thiết kế.
Lỗi hay khiến không đạt
Danh sách dưới tổng hợp từ những lỗi lặp lại nhiều lần ở công trình vừa và nhỏ:
- Van khoá trên đường ống chính hoặc nhánh bị đóng sau khi thử áp, không ai mở lại.
- Công tắc áp lực cài ngưỡng không đúng, bơm chính không tự chạy hoặc chạy liên tục.
- Tủ điều khiển bơm để chế độ tay, hoặc mất tín hiệu về tủ báo cháy.
- Bơm diesel hết nhiên liệu, ắc quy yếu, không tự khởi động khi mất điện.
- Đường ống thi công khác thiết kế (đường kính nhỏ hơn, tuyến dài hơn), không có biên bản thử áp từng đoạn.
- Đầu phun bị sơn, bị che, lắp sai loại ở khu có nhiệt độ cao như bếp, phòng máy.
- Họng nước bất lợi nhất không đủ áp lực do tổn thất trên đường ống lớn hơn tính toán.
- Thiếu chứng nhận kiểm định cho các phương tiện thuộc danh mục, hoặc chứng nhận không khớp model thực lắp.
Nếu lỗi thuộc về tính toán thiết kế (bơm không đủ cột áp cho điểm bất lợi), việc sửa có thể đòi đổi bơm hoặc điều chỉnh mạng ống và cần tư vấn thiết kế vào cuộc, thậm chí thẩm định điều chỉnh. Đừng để nhà thầu tự tăng áp bằng cách can thiệp cài đặt mà không có tính toán.
Ví dụ giả định: họng nước tầng mái của một toà văn phòng ở Hưng Yên
Ví dụ giả định: một toà văn phòng chín tầng ở Hưng Yên có trạm bơm đặt ở tầng hầm, bể nước ngầm, họng nước vách tường mỗi tầng và sprinkler cho tầng hầm để xe. Trong đợt tự nghiệm thu, nhà thầu thử họng nước ở tầng hai và tầng năm, đều cho kết quả tốt, rồi đề xuất ký biên bản.
Giám sát yêu cầu thử thêm họng ở tầng chín, cũng là họng xa trạm bơm nhất. Áp lực ở đó thấp hơn thiết kế. Kiểm tra lại thì thấy hai nguyên nhân: đoạn ống đứng lên tầng cao được thay bằng đường kính nhỏ hơn trong lúc thi công vì vướng hộp kỹ thuật, và một van khoá trên đường ống đứng chỉ mở một nửa từ lần thử áp trước.
Van mở hết thì áp lực cải thiện nhưng vẫn chưa đạt. Phần đường ống thay đổi phải được tư vấn thiết kế tính lại; kết quả là thay đoạn ống về đúng đường kính, tốn thêm thời gian tháo trần hai tầng. Nếu đoạn ống đó được thử và nghiệm thu công việc đúng lúc, trước khi đóng trần, chi phí sửa đã nhỏ hơn nhiều. Bài học: thử ở điểm bất lợi nhất, và nghiệm thu từng đoạn trước khi che lấp.
Câu hỏi thường gặp
Đầu phun sprinkler bị dính sơn trong lúc hoàn thiện thì xử lý thế nào?
Cách làm an toàn là thay đầu phun bị dính sơn bằng đầu phun mới cùng loại, không cạo hay lau bằng dung môi, vì lớp sơn và việc cạo có thể làm thay đổi độ nhạy nhiệt hoặc làm hỏng bộ phận cảm ứng. Nên che đầu phun trước khi sơn trần và kiểm lại toàn bộ trước buổi tự nghiệm thu.
Có thể dùng chung một trạm bơm cho sprinkler và họng nước vách tường không?
Nhiều công trình làm như vậy khi thiết kế tính đủ lưu lượng và áp lực cho trường hợp hai hệ thống cùng hoạt động. Đó là quyết định của tư vấn thiết kế và phải nằm trong hồ sơ được thẩm định. Khi nghiệm thu, cần thử kịch bản hai hệ thống cùng lấy nước để chứng minh tính toán đúng.
Xả nước thử sprinkler có làm ướt hỏng nội thất không?
Nếu thử đúng cách thì không, vì nước được xả qua van thử cuối tuyến và van xả của cụm van báo động, có đường thoát riêng. Cần kiểm trước đường thoát nước xả có thông, không đổ ra khu đã hoàn thiện. Đầu phun không bị làm vỡ trong lúc thử.
Bơm chữa cháy có cần chạy thử định kỳ sau khi nghiệm thu không?
Có. Bơm để lâu không chạy dễ kẹt, ắc quy bơm diesel yếu đi, nhiên liệu xuống cấp. Lịch chạy thử định kỳ thuộc phần vận hành, bảo dưỡng của cơ sở và nên được ghi trong tài liệu nhà thầu bàn giao ngay từ lúc nghiệm thu.
Công trình nhỏ chỉ có họng nước vách tường, không có sprinkler thì nghiệm thu đơn giản hơn không?
Ít hạng mục hơn nhưng nguyên lý vẫn giữ: nguồn nước đủ, bơm tự chạy khi mở họng, họng bất lợi nhất đủ áp lực, thiết bị trong tủ dùng được. Việc công trình có phải lắp sprinkler hay không do thiết kế và danh mục hiện hành quyết định, không phải do chủ đầu tư tự chọn.
Ai được vận hành trạm bơm sau khi bàn giao?
Người được giao nhiệm vụ phải được hướng dẫn vận hành và có tài liệu bằng tiếng Việt tại phòng bơm. Họ cần biết chuyển chế độ tự động và tay, dừng bơm đúng cách, đọc đồng hồ, và nhận biết khi nào cần gọi đơn vị bảo trì. Đây cũng là câu đoàn kiểm tra hay hỏi.